Thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Nhà nước, nhất là đối với những xã đặc biệt khó khăn, và tăng cường chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với những gia đình chính sách, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 71/2002/TT-BTC ngày 19/8/2002. Thông tư này đã sửa đổi bổ sung Thông tư số 83 TC/TCT ngày 7/10/1994 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 94/CP ngày 25/81994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế nhà đất. Qua đó đã xác định những đối tượng hộ gia đình được Nhà nước xem xét miễn, giảm thuế nhà đất hàng năm, gồm:
1/ Miễn thuế nhà, đất đối với đất ở của các hộ dân cư tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 của Chính phủ: Đối với các xã được quy định tại Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Chính phủ và các quyết định bổ sung các xã thuộc chương trình 135 hàng năm của Chính phủ để xem xét miễn thuế nhà, đất hàng năm cho các hộ thực tế có nhà đất ở trong địa bàn xã thuộc chương trình 135 của Chính phủ.
2/ Miễn thuế nhà, đất của các hộ thuộc diện hộ nghèo được xác định theo tiêu chuẩn hộ nghèo quy định tại Quyết định số 457/QĐ-UB ngày 26/2/2001 của UBND tỉnh “V/v bổ sung tiêu chí xác định hộ đời sống có nhiều khó khăn để xem xét miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp” làm căn cứ xem xét miễn thuế nhà, đất đối với các hộ nghèo.
3/ Đối với đất ở của đồng bào xây dựng vùng kinh tế mới được xem xét miễn thuế đất trong 5 năm đầu kể từ ngày đến ở (nếu đến ở 6 tháng đầu năm thì thuế nhà đất tính cả năm, nếu đến ở 6 tháng cuối năm thì thuế nhà, đất được tính 1/2 năm). Việc xác định miễn thuế đối với vùng kinh tế mới, được căn cứ vào quyết định của cấp có thẩm quyền quy hoạch vùng kinh tế mới và danh sách thống kê các hộ di chuyển từ các địa phương khác đến vùng kinh tế mới.
4/ Trường hợp miễn thuế nhà, đất đối với đất ở của hộ gia đình thương binh hạng 1/4, hạng 2/4; hộ gia đình liệt sĩ có người đang được hưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước hàng tháng (theo quy định tại Nghị định số 5/CP ngày 26/1/1994 và Nghị định số 6/CP ngày 21/1/1997 của Chính phủ). Đối với các đối tượng trên được căn cứ vào danh sách các trường hợp đang được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng của cơ quan chức năng của Nhà nước đang quản lý để xem xét miễn, giảm thuế nhà đất nhằm tránh tình trạng sót hộ hoặc trùng lắp. Trường hợp hộ gia đình có thương binh nặng hạng 1/4 và các thương, bệnh binh phải điều trị dài ngày tại các trại an dưỡng thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý mà không có hộ khẩu thường trú tại nhà cùng với cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con thì được miễn thuế nhà đất cho một hộ gia đình có thương binh đó.
5/ Trường hợp miễn thuế nhà đất đối với đất xây dựng nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách xã hội; đất ở của người tàn tật, sống độc thân, người chưa đến tuổi thành niên và người già cô đơn không nơi nương tựa không có khả năng nộp thuế. Những đối tượng này khi xem xét miễn thuế nhà đất chỉ được miễn thuế cho một nơi ở duy nhất do chính họ đứng tên. Diện tích đất được xem xét miễn thuế nhà đất được căn cứ quy định tại Quyết định số 48/2000/QĐ-UB ngày 18/4/2000 của UBND tỉnh Bình Định.
6/ Các trường hợp hộ nộp thuế nhà, đất trong năm bị Nhà nước thu hồi, giải tỏa nhà đất để phục vụ cho quy hoạch của cấp có thẩm quyền để chuyển đến nơi ở mới thì được miễn thuế nhà, đất trong năm đó cho số thuế của diện tích đất bị giải tỏa và diện tích đất nơi ở mới. Những trường hợp này các hộ phải có quyết định của cấp có thẩm quyền về việc thu hồi đất nơi ở cũ và quyết định cấp đất nơi ở mới. Trường hợp hộ nộp thuế đã nộp thuế nhà đất của diện tích đất bị giải tỏa và diện tích đất nơi ở mới, thì số thuế nhà đất đã nộp được khấu trừ vào số thuế hộ phải nộp ở các năm sau. Cơ quan thuế có trách nhiệm xác định số thuế được giảm trừ do được miễn thuế để thông báo số thuế phải nộp của các năm tiếp theo.
Những trường hợp được xem xét miễn, giảm thuế nhà, đất theo các quy định trên được thực hiện bắt đầu từ ngày 1/1/2003.
. Trần Quốc Trị
(Cục thuế Bình Định) |